Truyền thống

Tin tức hàng ngày

Khuyến học

Nhịp sống học đường

Hoạt động chuyên môn

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

logo vno

LIÊN KẾT WEBSITE


THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 6


Hôm nayHôm nay : 149

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1003

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 165804

Bluesky

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức hàng ngày » Thông tin giáo dục

CHUC MUNG NGAY 20-11

Tập huấn công tác Chủ nhiệm lớp

Thứ sáu - 24/11/2017 10:35
Để nâng cao công tác chủ nhiệm lớp, Phòng GD&ĐT Đô Lương đẫ tổ chức tập huấn Công tác chủ nhiệm lớp cho CBGV trong huyện
 TẬP HUẤN CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM.
PHẦN I:
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC
 CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
 
I. Vị trí, vai trò của người GVCN:
- GVCN là người được hiệu trưởng bổ nhiệm trong số những giáo viên có kinh nghiệm và có uy tín. Giáo viên chủ nhiệm lớp được thay mặt Hiệu trưởng quản lý và tổ chức học tập, rèn luyện đạt mục tiêu đào tạo. GVCN vừa đóng vai trò quản lý hành chính Nhà nước, vừa đóng vai trò người thầy giáo, đồng thời còn đóng vai trò người đại diện cho quyền lợi của tập thể lớp.
- GVCN là người chủ chốt của nhà trường làm công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho HS lớp mình chủ nhiệm.
- GVCN là cầu nối giữa lớp với các GV bộ môn, Ban giám hiệu, Tổ CM, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Nữ công…) và Cha mẹ học sinh.
- GVCN là người tổ chức các HĐGD trong lớp, các HĐTT và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về công tác GD ĐT, lối sống và chuẩn KTKN cần đạt của lớp mình được quy định tại QĐ số 16/ QQD- BGD ĐT ngày 5/ 5/ 2006 của BGD và ĐT về việc ban hành chương trình GDPT.
- GVCN lớp là người đại diện quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của tập thể học sinh, là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
II. Nhiệm vụ, chức năng, yêu cầu của người giáo viên  chủ nhiệm trong trường  Tiểu học:
1. Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu và nắm vững HS trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp.
- Cộng tác chặt chẽ với gia đình HS, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn TN…
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại HS cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị danh sách HS lên lớp…
- Báo cáo thường kì hoặc đột xuất về tình hình của lớp với hiệu trưởng.
2. Chức năng
 - Phát hiện, bồi dưỡng và cử đội ngũ cán bộ lớp và phân công nhiệm vụ nhằm giúp các em tổ chức thực hiện tốt mọi hoạt động của lớp, của trường.
 - Định hướng, tư vấn và giúp các em tổ chức thực hiện các mặt hoạt động của lớp
 - Tổng hợp tình hình, đề xuất các giải pháp để tham mưu cho Trường về công tác giáo dục, rèn luyện của HS.
 - Nắm chắc tư tưởng, tinh thần thái độ và kết quả học tập, rèn luyện của HS; phối hợp với gia đình và đoàn thể để giúp đỡ, bồi dưỡng HS  để trở thành người tốt cho xã hội.
3. Yêu cầu
- Cần quán triệt đường lối, chính sách, mục tiêu, nguyên lí giáo dục của Đảng
- Thu thập và xử lý thông tin đa dạng về lớp chủ nhiệm để xây dựng hồ sơ HS và thiết lập kế hoạch phát triển tập thể.
- Với chức năng quản lí GVCN phải biết lập kế hoạch năm học và các kế hoạch ngắn hạn
- Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục và các hình thức giao lưu đa dạng.
- Phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
- Cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh.
III. Quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm đối với BGH, đồng nghiệp,  cha mẹ học sinh và cộng đồng:
1. Quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm đối với BGH:
Mối quan hệ giữa GVCN lớp với BGH và HĐGD nhà trường là mối quan hệ của người bị quản lý đối với lãnh đạo, vì thể nó cần thiết phải thực hiện những công việc sau:
 Tiếp nhận chủ trương, kế hoạch và những định hướng cho từng hoạt động cụ thể của BGH và HĐGD nhà trường.
 Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch cho phù hợp với tình hình của lớp chủ nhiệm. Trong quá trình xây dựng và triển khai kế hoạch, nếu xuất hiện những khó khăn hoặc những tình huống đột biến không thể hoặc không thuộc quyền xử lý thì cần báo cáo kịp thời với BGH và HĐGD để lấy ý kiến chỉ đạo, bổ sung, điều chỉnh kế hoạch hoặc thay đổi phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động tận dụng sự hỗ trợ về tinh thần và vật chất của cấp trên.
 Báo cáo kế hoạch hoạt động chủ nhiệm lớp theo định kỳ (cuối học kỳ, cuối năm học) hoặc đột xuất nếu có với BGH và HĐGD theo hướng dẫn chung của nhà trường (đánh giá, xếp loại học tập, năng lực, phẩm chất  và các mặt hoạt động khác của từng học sinh trong lớp).
 Đề đạt nguyện vọng chính đáng của học sinh lớp chủ nhiệm với BGH và HĐGD nhà trường, đề xuất các phương án giải quyết với sự suy nghĩ thấu đáo, cẩn trọng.
 Phản ánh những ý kiến nguyện vọng của gia đình học sinh về sự đồng tình hay phản bác đối với những chủ trương, quy định của trường trong các mặt hoạt động giáo dục để cấp trên có sự xem xét, giải đáp hoặc sửa đổi cho phù hợp với thực tế.   
2. Quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm đối với đồng nghiệp:
- Trong nhà trường các em được học tốt tất cả các môn theo qui định. Ngoài công tác chủ nhiệm, GVCN còn phải phụ trách các bộ môn chuyên môn vì thế viếc phối hợp với giáo viên bộ môn là hết sức quan trọng và cần thiết. 
- Phối hợp với các lực lượng khác như: bảo vệ, thư viện, y tế, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể và bộ phận giám thị… để giáo dục học sinh. GVCN cần phản ánh nguyện vọng của học sinh, đề xuất yêu cầu và đề nghị các lực lượng này cùng phối hợp tác động tới học sinh, hỗ trợ các hoạt động của lớp khi cần thiết.
3. Quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm đối với cha mẹ học sinh và cộng đồng:
Giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên liên lạc, trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của các em trong nhà trường (qua số điện thoại, liên lạc trực tiếp…). Vậy khi đặt mình vào vị trí của người phụ huynh, thì hãy suy nghĩ họ mong muốn điều gì ở người giáo viên chủ nhiệm? Chính vì thế giáo viên chủ nhiệm phải thật sự quan tâm phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để cùng nhau tìm ra phương pháp hiệu quả nhất nhằm hạn chế những tiêu cực làm sa sút về nhân cách đạo đức con người mà trong đó có con em chúng ta. Hãy đến nhà của các em thường xuyên vi phạm để có thể nắm tình hình một cách chính xác nhất, đừng ngồi chờ PHHS đến rồi mới phản ánh ý kiến, khi thấy sự việc là cần thiết.     
IV. Giáo viên chủ nhiệm trong các hoạt động ở trường Tiểu học:
1. Giáo viên chủ nhiệm với công tác quản lý  và giáo dục học sinh trong các giờ học chính khóa:
- Giáo viên chủ nhiệm có mặt thường xuyên tại lớp 10 phút trước giờ học mỗi ngày, đặc biệt là những ngày đầu tuần.
- Tổ chức 10 phút “ Ôn bài” đầu giờ học mỗi ngày. Ôn bài là biện pháp giúp nhau ôn tập nhanh, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày học mới. Truy bài đầu giờ còn là biện pháp khắc phục tình trạng đi học muộn, cho nên cần được tổ chức tốt và duy trì lâu dài.
- Thành lập đội Cờ đỏ  của lớp để theo dõi thi đua giữa các tổ và tham gia trực tuần với các lớp trong trường.
- Tổ chức thi đua giữa các tổ trong lớp, giữa HS với HS.
- Tổ chức cho học sinh chuẩn bị trước các bài học trong ngày.
- Tổ chức cho học sinh trao đổi về phương pháp đọc sách, ghi chép và sử dụng tài liệu và thảo luận trên lớp.
- Nêu gương những học sinh có phương pháp học tập tốt, đặc biệt những học sinh nghèo học giỏi.
- Tổ chức cho học sinh học nhóm, đôi bạn cùng học để hỗ trợ nhau học tập.
2. Giáo viên chủ nhiệm với  các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tiết chào cờ, hoạt động của Sao nhi đồng và  Đội TNTPHCM
a. Với Tiết chào cờ đầu tuần:
  Sau tiết sinh hoạt dưới cờ (tiết đầu tuần), các giáo viên chủ nhiệm (GVCN)
nắm danh sách các học sinh (HS) vắng có phép, không phép, đi trễ, hoặc vi phạm nội quy như mang dép lê,  tóc tai xịt keo hay nhuộm màu… để GVCN làm việc với các em, quán triệt nội quy hoạt động của lớp…. Bởi vì trong giờ này, ngoài những vấn đề “thời sự” liên quan đến nhà trường và học sinh, thầy cô còn cung cấp cho học sinh  những bài học đạo đức . Khi trong lớp có học sinh nào gặp hoàn cảnh khó khăn là thầy cô gợi ý cho lớp thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp một bạn vượt khó, với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, chuyện kỷ luật trong lớp, việc thi đua nội bộ lớp, việc đánh giá học sinh cũng được giáo viên hướng dẫn thực hiện một cách nhẹ nhàng và chân tình.
b. Với hoạt động của Sao nhi đồng và  Đội TNTPHCM:
 Phối hợp với Tổng phụ trách trong hoạt động Đội – Sao: - Mỗi tiết học hiệu quả hơn nếu nề nếp lớp học tốt. Bởi vậy, cần phối hợp với ban thi đua yêu cầu theo dõi về nề nếp lớp học và trao đổi các hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp.
 Trong sinh hoạt 15 phút, GVCN  định hướng cho các em phụ trách sao (HS lớp 4-5) đến giao lưu chi đội  các lớp bằng một số hoạt động giao tiếp hàng ngày đơn giản; hay kiểm tra bảng cửu chương, kỹ năng tính toán, thi vẽ tranh. Vậy là chỉ 15 phút sinh hoạt Sao đầu buổi học các em được rèn rất nhiều kỹ năng nhờ vào anh chị phụ trách Sao.
3. S phối hợp giữa  giáo viên chủ nhiệm với  Ban đại diện cha mẹ học sinh
Giáo viên chủ nhiệm là người nắm rõ mọi chủ trương, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, do đó trở thành “nhịp cầu” trung gian trao đổi thông tin giữa nhà trường với Ban đại diện cha mẹ học sinh,  thu nhận thông tin, ý kiến, nguyện vọng của cha mẹ học sinh để báo lại với lãnh đạo nhà trường. Từ đó gắn kết được trách nhiệm giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh. Sự phối hợp giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh với giáo viên chủ nhiệm được thực hiện có tổ chức theo kế hoạch chung của nhà trường bằng những cuộc họp định kỳ, đột xuất. Thông qua những cuộc họp này, giáo viên chủ nhiệm ngoài việc truyền đạt chủ trương, thông báo của nhà trường, còn trực tiếp báo cáo với cha mẹ học sinh về thực trạng của lớp, tình hình học tập, tư cách đạo đức của từng học sinh. Muốn vậy, giáo viên chủ nhiệm cần phải bám sát, gần gũi, có trách nhiệm và tình thương để có những nhận xét, đánh giá phân minh nhất đối với từng đối tượng. Điều này sẽ giúp phụ huynh học sinh tin tưởng đối với việc giáo dục của nhà trường và kịp thời chấn chỉnh việc học và tác phong đạo đức học sinh.
Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm còn chủ động liên hệ mời phụ huynh đến trường hoặc giáo viên chủ nhiệm đến nhà trao đổi riêng, bàn bạc giải pháp giáo dục và khắc phục những sai phạm của học sinh.
V. Các giải pháp sư phạm trong công tác giáo dục của người giáo viên chủ nhiệm:
1. Giải pháp xử lý tình huống sư phạm của người giáo viên chủ nhiệm  trong công tác quản lý và giáo dục học sinh :
a, Xếp chỗ ngồi:
GVCN phải xem trước học bạ của từng học sinh trong năm học trước để nắm được học lực, hạnh kiểm của từng học sinh. Khi sắp chỗ ngồi nên chia đều những học sinh có học lực khá, giỏi ngồi xen lẫn với những học sinh có học lực trung bình. Nếu thấy trong lớp có những học sinh bị ghi trong học bạ là hạnh kiểm chưa tốt hoặc học sinh lưu ban nên xếp chỗ ngồi cho các em ở những dãy bàn đầu để tiện quan sát, theo dõi. Sau khi xếp chỗ ngồi xong GVCN lập sơ đồ lớp và dán tại bàn giáo viên để giáo viên bộ môn tiện theo dõi.
 Nếu trong lớp đã có học sinh cá biệt thì không nên cho các em ngồi gần nhau. Không nên cho các em tùy tiện chọn chỗ ngồi, vì những học sinh ham chơi, hay đùa giỡn thường thích ngồi gần nhau.
b, Bầu Ban cán sự (BCS) lớp:
Khi GVCN đã nắm được tình hình kết quả học tập, năng lực, phẩm chất của học sinh sẽ lựa chọn những học sinh có đủ phẩm chất đạo đức để bầu làm lớp trưởng, các lớp phó và các tổ trưởng, tổ phó. Đây là vấn đề rất cần thiết để giao trách nhiệm cho BCS lớp thay mặt GVCN điều hành, quản lý lớp. Trong quá trình giao nhiệm vụ, nếu thấy trong BCS những học sinh nào không làm tốt sẽ thay bằng học sinh khác để tiếp tục quản lý lớp.
Tránh trường hợp học sinh không đủ năng lực nhưng GVCN vẫn bắt buộc phải làm lớp trưởng hoặc lớp phó, từ đó làm ảnh hưởng đến tinh thần học tập của các em và tạo điều kiện cho những mầm móng học sinh cá biệt xuất hiện.
c, GVCN xây dựng nội quy lớp:
Nội quy lớp là một công cụ hỗ trợ GVCN xử lý học sinh vi phạm. Bên cạnh GVCN phải xây dựng thang điểm thi đua của lớp hàng tuần ứng với nội quy của lớp, trong đó có hình thức biểu dương, khen thưởng và kỉ luật cụ thể từng trường hợp và được công khai vào tiết sinh hoạt lớp.
 GVCN đóng vai trò hết sức quan trong trọng việc rèn luyện, giáo dục học sinh, nên trong các buổi 15 phút đầu giờ GVCN phải thường xuyên đến lớp để theo dõi tình hình. Bên cạnh tác phong của GVCN cũng rất cần thiết như: đầu tóc, trang phục, lên lớp đúng giờ, những gì nói với học sinh thì phải thực hiện bằng được tránh tình trạng dễ dãi qua loa, phải xử lý học sinh đúng quy định đã đặt ra dù cho học sinh đó vô tình hay cố ý vi phạm. Từ đó giúp học sinh học hỏi được phong cách, tác phong trước tiên từ người GVCN lớp, làm các em càng kính trọng hơn.
d, GVCN khảo sát học sinh:
Sau khi làm xong công tác tổ chức lớp, GVCN tiến hành khảo sát để nắm được những thông tin có liên quan đến hoàn cảnh, đời sống gia đình của các em. Qua đó giúp GVCN biết được hoàn cảnh từng đối tượng học sinh, trong số đó dễ dàng nhận ra được những học sinh sẽ rơi vào trường hợp học sinh cá biệt để kịp thời ngăn chặn, uốn nắn, biết được những học sinh nào có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt dẫn đến nguy cơ bỏ học cao để báo lên  nhà trường và các tổ chức, cá nhân liên quan để kịp thời giúp đỡ.
 Khi nắm được những thông tin của học sinh, GVCN sẽ phân luồng đối tượng, xem những học sinh nào có thể dẫn đến sa sút về học tập và sẽ trở thành học sinh cá biệt sau đó lập sổ để theo dõi dành riêng cho những đối tượng học sinh này.
2. Tiếp xúc với cha mẹ học sinh
Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm GVCN phải cố gắng nắm được số điện thoại liên lạc của gia đình, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi gián tiếp với cha mẹ học sinh khi cần thiết. Ngoài ra GVCN cần phải tiếp xúc riêng để trao đổi thông tin với cha mẹ của những học sinh cá biệt, đây là điều rất cần thiết, không thể thiếu đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm. Thông qua công việc này giúp giáo viên biết được các thói quen, sở thích, thái độ của học sinh thường biểu hiện ở gia đình. Qua đó giúp cha mẹ học sinh biết được tình hình học tập, những dấu hiệu sa sút của các em đồng thời giúp cha mẹ học sinh thấy được sự quan tâm của nhà trường đối với gia đình từ đó tạo được niềm tin đối với phụ huynh trong việc giáo dục con cái của họ. Mối quan hệ có tác động hai chiều này nhằm hạn chế bớt mặc cảm, tự ti ở các em, giúp các em giảm bớt tâm lý lo sợ khi tiếp xúc với GVCN.
3. Tìm hiểu mối quan hệ bè bạn của học sinh
Ngoài những thông tin mà GVCN tìm hiểu về học sinh cá biệt, bên cạnh cần phải tìm hiểu mối quan hệ bè bạn của học sinh đó để biết những đối tượng mà học sinh này đang chơi chung họ như thế nào. Có thể GVCN tìm hiểu thông qua lớp trưởng, các học sinh khác trong lớp, thông qua phiếu khảo sát… Có những học sinh ít giao tiếp với bạn bè chỉ thích chơi game mà học tập giảm sút, nên khuyến khích các học sinh khác trong lớp thường xuyên tiếp xúc để có biện pháp giúp đỡ bạn, giúp các em sống trong môi trường đoàn kết, gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong bất kỳ trường hợp nào. GVCN có thể giáo dục các em bằng cách nêu gương, điển hình giúp các em tự nhận thấy những khuyết điểm của mình để từng bước sửa chữa. GVCN nên gặp riêng từng học sinh để trao đổi, giải thích cho các em hiểu những sai trái của mình để các em có hướng khắc phục, không nên làm các em cảm thấy mặc cảm trước lớp.
4. Tạo sự gần gũi, quan tâm với học sinh
Tạo mối quan hệ gần gũi là thể hiện sự quan tâm đối với các em, nhưng người thầy vẫn luôn giữ chuẩn mực, nghiêm khắc. Tiếp xúc tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em, nhằm để động viên, khích lệ tạo cho các em có được chỗ dựa tinh thần vững chắc. Để các em thấy sự quan tâm của người thầy như người cha, người mẹ của các em luôn dìu dắt, nâng đỡ các em khi vấp phải những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Khi học sinh nghỉ học, dù có phép hay không phép, dù bất cứ lý do gì những buổi học sau phải tiếp xúc để thăm hỏi các em, đôi khi cũng có những lý do khá đặc biệt người thầy có thể chia sẽ với các em, làm cho các em cảm thấy vui hơn khi được thầy cô quan tâm đến mình, từ đó những biểu hiện cá biệt dần dần biến mất.
5. Giao nhiệm vụ cho học sinh:
Thường GVCN không giao nhiệm vụ cho những học sinh cá biệt, vì cho rằng những học sinh này sẽ không làm được gì, coi thường các em mà chỉ luôn la rầy, nêu tên là chính. Điều đó không khéo dễ làm hỏng các em hơn. Cho nên đối với những đối tượng này, GVCN nên tạo cho các em một cơ hội để các em thấy được vai trò của mình trong tập thể, đồng thời phát huy tính làm chủ của các em và nhận thấy rằng mình không bị lạc lỏng, không bị bỏ rơi: Như tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, tham gia các trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao, tham gia làm báo tường, .... nhân các ngày lễ do trường tổ chức…Khi hoàn thành nhiệm vụ GVCN phải đánh giá kết quả bằng cách nêu gương trước tập thể lớp.
6. Rèn luyện học sinh tính trung thực
Phải rèn luyện cho học sinh tính trung thực, tự lập, vượt qua mọi khó khăn thử thách, không nên ỷ lại. Có được tính trung thực điều đó khẳng định là các em đã trưởng thành, phải chịu trách nhiệm trước công việc của mình làm, nếu có sai phạm phải tự nhận lấy, không đổ lỗi cho người khác. Từ đó giúp các em tự khẳng định được mình và các em sẽ đắn đo trước những công việc mà mình sắp làm nhằm hạn chế bớt những sai phạm.
7. Sinh hoạt lớp:
Trong tiết sinh hoạt lớp, GVCN đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn các em từng bước tiến hành. Sau đó GVCN sẽ là người kết luận cuối cùng. Đối với những trường hợp vi phạm cho các em tự báo cáo về mình dựa theo nội quy của lớp (từng học sinh báo báo).
Sau đó lớp trưởng nhận xét xem còn ai chưa báo cáo, hoặc báo cáo không chính xác để GVCN xử lý. Trong việc xử lý những học sinh vi phạm phải đúng người, đúng tội theo Nội quy đã đề ra. Tránh trường hợp vị nể, xử học sinh này nặng, xử học sinh kia nhẹ làm mất đi tính nghiêm khắc, công minh của người thầy. Những học sinh vi phạm phải chấp nhận hành vi vi phạm của mình. Điều này thông qua sự báo cáo của BCS lớp phải thật sự chính xác công bằng. Những hình thức kỉ luật đã đưa ra bắt buộc học sinh đó phải thực hiện, GVCN không bỏ qua với bất cứ trường hợp nào. Làm được điều đó sẽ giúp cho nề nếp lớp học đi vào khuôn khổ nhất định, rèn luyện cho các em chấp hành tốt Nội quy trường, lớp như vậy sẽ hạn chế tối đa trường hợp học sinh có biểu hiện cá biệt tái phạm.
Ngoài việc xử lý học sinh vi phạm, GVCN cần phải có hình thức biểu dương, khen thưởng. Đây là hình thức rất có ý nghĩa, học sinh cá biệt thông thường vốn khó tính, khó dạy nếu GVCN thiên vị lập tức sẽ có sự phản ứng ngược lại. Mỗi khi học sinh cá biệt làm được một việc tốt, đạt điểm tốt thì phải động viên khuyến khích các em nên tiếp tục phát huy. Nếu các em sai phạm thì cứ nhẹ nhàng xử lý như những học sinh khác, tránh nóng vội, kì thị để các em tự nhận lỗi và sửa chữa.
KẾT LUẬN:
- GVCN có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển học sinh của lớp chủ nhiệm
- Công việc của GVCN với Ban giám hiệu và Hội đồng giáo dục nhà trường.
- Công việc của GVCN lớp với GVCN các lớp khác cùng khối.
- Công việc của GVCN với các giáo viên bộ môn giảng dạy tại lớp chủ nhiệm.
- Công việc của GVCN với các giáo viên bộ môn giảng dạy tại lớp chủ nhiệm.
- Giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh cần phải có mối liên hệ gắn bó, mật thiết.
- Mục đích và sự cần thiết GVCN phải có sự phối hợp với các lực lượng xã hội
 
 
 
 
 
PHẦN II:
KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC HỌC SINH CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
   
 
 
 
TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC HS CỦA NGƯỜI GV CHỦ NHIỆM LỚP TIỂU HỌC
(Thảo luận nhóm theo 3 câu hỏi)
Chuyên đề gồm tìm hiểu những vấn đề sau:
1. Một số khái niệm cơ bản
2. Phân loại tình huống
3. Qui trình giải quyết tình huống sư phạm
4. Bài tập xử lý các tình huống sư phạm
   
   
NHIỆM VỤ: Trao đổi trong nhóm hoàn thành bài tập.
 
             
'Rounded Rectangle: 1. Phân biệt tình huống sư phạm và tình huống thông thường. Cho ví dụ minh họa(Nhóm 1) THTT THSPGiống Khác 2.Có ý kiến cho rằng tình huống sư phạm là tình huống có vấn đề. Anh, chị có đồng ý với ý kiến đó không? Vì sao? (Nhóm 2)'
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
1.      Tình huống
Theo từ điển tiếng việt năm 2008: “Tình huống là hoàn cảnh diễn biến, thường bất lợi, cần đối phó” hay nói cách khác:
- Tình huống là thực tế khách quan có sự diễn biến, thường là những diễn biến bất lợi cần phải đối phó.
- Tình huống là một hệ thống phức tạp gồm chủ thể và khách thể. Trong đó chủ thể là người, còn khách thể là một hệ thống nào đó.
- Nói về tình huống là nói tới một sự kiện thực tế khách quan nào đó xuất hiện, đặt ra yêu cầu phải sử lý, giải quyết một cách cụ thể. Trong cuộc sống, con người thường đặt vấn đề: Có tình huống, đã xuất hiện tình huống; hoặc: khi có tình huống, nếu có tình huống; để thể hiện một sự kiện đột biến trong quá trình vận động, phát triển hoặc để thể hiện ý chí phải giải quyết một vấn đề nào đó không bình thường, xảy ra trong quá trình vận động, phát triển của thực tiễn.
2.      Tình huống có vấn đề
- “ Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí xuất hiện khi con người gặp phải tình huống gợi ra những khó khăn về mặt lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua nhưng không phải ngay tức khắc bằng những hiểu biết vốn có, bằng cách thức đã biết mà đòi hỏi lĩnh hội tri thức mới và cách thức hành động mới, phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có”
      Tóm lại, các định nghĩa, các quan điểm  về tình huống có vấn đề đều đề cập chung đến một  điểm như sau: Tình huống luôn chứa đựng vấn đề/ mâu thuẫn và kích thích người học mong muốn, hứng thú giải quyết.
3.      Tình huống sư phạm
Là tình huống trong công tác giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm lớp là những sự kiện thực tế khách quan diễn ra có tính chất bất thường liên quan đến trách nhiệm quản lý của người giáo viên chủ nhiệm, buộc người giáo viên chủ nhiệm lớp phải có biện pháp giải quyết thích hợp.
Giải quyết THSP thực chất là giải quyết vấn đề của công tác giáo dục học sinh trong tình huống. THSP chỉ được giải quyết khi vấn đề của công tác giáo dục học sinh - tức vấn đề sư phạm trong tình huống được chủ thể phát hiện, chấp nhận và giải quyết trong những điều kiện nhất định.
Xem xét mối quan hệ giữa tình huống có vấn đề và THSP cho thấy, một khi nhà giáo dục bị đặt vào một tình huống có vấn đề diễn ra trong công tác giáo dục học sinh, để giải quyết tình huống có vấn đề đó, nhà giáo dục phải tiến hành một quá trình tư duy sư phạm trên cơ sở những kinh nghiệm giáo dục HS sẵn có của mình, thì lúc đó nhà giáo dục đã đứng trước một THSP.
 
 
 
NHIỆM VỤ: Làm việc nhóm
'Rounded Rectangle: Đồng chí hãy phân loại các tình huống 'Trao đổi trong nhóm giải quyết nhiệm vụ sau
 
 
 
1.        Phân loại tình huống
Có nhiều cách phân loại tình huống
1.1. Căn cứ theo tính vấn đề của tình huống có:
-         Tình huống đúng sai (Mâu thuẫn)
-         Tình huống phản bác
-         Tình huống nghịch lý
-         Tình huống……
1.2. Căn cứ theo tính logic của vấn đề có thể có:
-         Tình huống đối thoại
-         Tình huống nghịch lí
-         Tình huống những sự kiện mâu thuẫn
-         Tình huống tranh luận biện chứng
-    Tình huông hai bên cùng tranh luận và hai bên cùng đúng
1.3. Căn cứ vào phạm vi vấn đề có:
-         Tình huống thông thường
-         Tình huống có vấn đề
-         Tình huống sư phạm
2.        Phân loại tình huống sư phạm:
Cũng như tình huống, THSP có nhiều cách phân loại khác nhau.
2.1.  Dựa vào chức năng của GV khi tham gia các hoạt động giáo dục HS.
Trong công tác giáo dục HS, người giáo viên cùng một lúc thực hiện nhiều chức năng như: Quản lý toàn diện HS; Thiết kế phương hướng, kế hoạch giáo dục HS; Xây dựng tập thể HS; Phối hợp với các lực lượng giáo dục; Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục HS v.v… Nên sẽ có những tình huống tương ứng như
 
 
 
 
 
 
 
 

 
2.2. Dựa vào biểu hiện của tình huống nói chung và THSP nói riêng bao gồm
THSP đơn giản THSP phức tạp
THSP không nguy hiểm THSP nguy hiểm
THSP tích cực THSP tiêu cực
THSP mà vấn đề trong tình huống đã được giải quyết THSP mà vấn đề trong tình huống chưa được giải quyết
2.3. Dựa vào tính chất của tình huống nói chung và THSP nói riêng bao gồm
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
2.4.  Dựa vào đối tượng tạo ra tình huống có
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


 
 
2.5. Dựa vào các mối quan hệ của GV trong quá trình thực hiện CTGD học sinh có thể phân THSP thành các loại:
 
 
 
 
 
 
 
 

2.6. Dựa vào nguyên nhân gây nên tình huống có thể phân THSP trong CTGD học sinh thành các loại như:

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Như vậy là trong công tác giáo dục HS của GVCN có nhiều loại tình huống khác nhau tuy theo từng tiêu chí phân loại. Tuy nhiên sự phân loại này chỉ mang ý nghĩa tương đối vì trong loại tình huống này lại có loại tình huống khác. Tổng hợp các cách phân loại đó, trong tài liệu này  giới thiệu các loại tình huống sau
1.  THSP có liên quan đến việc tìm hiểu tình hình HS
2.  THSP có liên quan đến việc xây dựng tập thể, quản lý  HS
3. THSP có liên quan đến việc giáo dục toàn diện HS (Trong giờ học chính khóa và hoạt động ngoài giờ lên lớp)   
4. THSP có liên quan đến việc đánh giá HS
5. THSP có liên quan đến việc phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để quản lí, giáo dục HS (đoàn thể, phụ huynh học sinh v.v…)
6. THSP có liên quan đến việc giáo dục HS cá biệt.

 
 
 
 
 
 

-         Trao đổi trong nhóm giải quyết bài tập
-          
'Rounded Rectangle: Đồng chí hãy nêu qui trình giải quyết tình huống sư phạm' 
 
 

Qui trình giải quyết tình huống sư phạm
Khi tìm hiểu về qui trình để giải quyết TH nói chung và THSP nói riêng cũng có nhiều quan điểm khác nhau.
Điểm qua một số qui trình giải quyết tình huống, chúng ta có thể thấy để giải quyết tình huống sư phạm cần thực hiện theo qui trình sau:
Bước 1: Xác định vấn đề
Bước 2:Thu thập thông tin và dữ kiện thích hợp
* Xem xét các thông tin và các dữ kiện có sẵn. Thu thập thêm dữ kiện mới qua khảo sát….
* Sắp xếp, phân tích xử lý dữ kiện
-         Nhận biết chứng cứ cần thiết; Thu thập chứng cứ; Sắp xếp chứng cứ (chuyển dịch, giải thích, phân loại)
-         Phân tích chứng cứ
Bước 3: Xây dựng các giả thuyết và chọn giải pháp
Tìm tòi các mối quan hệ khác nhau để đưa ra các suy luận logic; Phát biểu các giả thuyết
Bước 4: Lựa chọn giải pháp
Tìm kiếm các mối quan hệ có liên quan trong tình huống; tìm điểm giống và khác nhau giữa các giải pháp và lựa chọn giải pháp tốt nhất
Bước 5: Đánh giá kết quả, đưa ra kết luận và áp dụng
Đưa ra kết luận, thử nghiệm để xem xét chứng cứ mới và khái quát hóa kết quả
Qui trình trên có thể tóm tắt qua sơ đồ:
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Bài tập xử lý các tình huống sư phạm
(Phần báo cáo)
2.1.  THSP có liên quan đến việc tìm hiểu tình hình HS
(Nhóm 1: cụm 1+ cụm 2)
MẸ BẠN VỪA MẤT
Nguyễn Văn Sơn là học sinh lớp 4. Sơn nghỉ học đã gần một tuần nay mà lớp chưa rõ lý do. Trong tiết sinh hoạt lớp cuối tuần, Cô M - giáo viên chủ nhiệm hỏi:
- Em nào ở gần nhà bạn Sơn ?
- Thưa Cô em ạ! Bạn Tuấn  đứng lên trả lời.
- Em có biết vì sao bạn Sơn lại nghỉ học không? Cô hỏi tiếp.
- Thưa Cô, bạn Sơn chỉ còn mẹ,  mà mẹ bạn ấy lại vừa mới mất ạ!  Tuấn đáp giọng buồn buồn.
Câu hỏi
- Cô chủ nhiệm lớp đã quản lý học sinh tốt chưa?
- Bài học nào nên rút kinh nghiệm từ tình huống này?
                           
 
 
 
 
 
Bài tập xử lý các tình huống sư phạm
2. 2.  THSP có liên quan đến việc xây dựng tập thể, quản lý  HS
(Nhóm 2: cụm 3+ cụm 4)
“THƯA CÔ…. EM BỊ MẤT TIỀN”
   Hồi trống báo hiệu tiết học sau giờ ra chơi vang lên. Cô giáo bước vào lớp và bắt đầu bài giảng. Nhưng bài học mới chỉ bắt đầu được vài phút thì một học sinh đứng lên nói thất thanh “thưa.. ưa..ưa..cô, em bị mất tiền ạ. Em mang tiền đi để đóng tiền may đồng phục. Sau giờ ra chơi vào em không thấy đâu”.
   Cả lớp nhốn nháo, em học sinh bị mất tiền không ngừng khóc. Nếu bạn là giáo viên đó bạn sẽ làm gì?
   1. Yêu cầu học sinh đó ngồi xuống và nói: “tiền em mang đi thì phải cất giữ cẩn thận chứ. Bây giờ mất rồi cô biết làm thế nào”
   2. Ngừng ngay bài giảng để “truy tìm thủ pham”
   3. Khuyên em học sinh bình tĩnh, rồi dạy tiếp. Dành thời gian cuối giờ để giải quyết.
Câu hỏi:
            - Phân tích ưu và nhược của mỗi cách giải quyết
            - Trình bày cách giải quyết của bạn
 
                                       
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                     Bài tập xử lý các tình huống sư phạm
2.3.THSP có liên quan đến việc giáo dục toàn diện HS (Trong giờ học chính khóa và hoạt động ngoài giờ lên lớp)
(Nhóm 3: cụm 5+ cụm 6+cụm 7)
NHẦM
            Trong giờ lên lớp, bạn phát phiếu học tập cho HS. Khi vừa phát xong, lên bàn giáo viên bạn phát hiện đã phát nhầm bài tập. Bạn giải quyết như thế nào: 
            Cách 1: Xin lỗi HS và đi thu lại bài tập đó và phát lại bài tập theo yêu cầu
            Cách 2: - Bạn yêu cầu HS xem bài tập vừa phát và hỏi học sinh phát hiện được điều gì?
-         Yêu cầu HS bảo quản bài tập đó để hoạt động sau sẽ dùng
-         Phát bài tập đúng với yêu cầu.
Câu hỏi:
-         Bạn sẽ chọn cách giải quyết nào? Vì sao
-         Ngoài 2 cách trên bạn có cách giải quyết khác không
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
2.4. THSP có liên quan đến việc đánh giá HS
 
CÔ CHẤM ĐIỂM KHÔNG CÔNG BẰNG!
Khi tan học, cô giáo chủ nhiệm nghe thấy hai học sinh lớp mình nói nói chuyện với nhau: Hôm nay bạn Hoa đọc thế mà cô cũng cho điểm 10, trong khi bạn Thủy bài làm tốt hơn lại chỉ được 8 điểm. Đúng là cô không công bằng.
Câu hỏi
-         Bạn nên xử lí ra sao khi nghe học sinh nói như vậy?
-         Bài học rút ra từ tình huống trên là gì
2.5. THSP có liên quan đến việc phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để quản lí, giáo dục HS (đoàn thể, phụ huynh học sinh v.v…) (Nhóm 4)
                               PHỤ HUYNH BAO CHE KHUYẾT ĐIỂM CHO CON
Dũng được gia đình nuông chiều. Em ham chơi, nhiều lần đi học muộn, vi phạm nội qui làm ảnh hưởng đến lớp. Trong lớp hay nói chuyện , làm việc riêng…. Nhiều lần giáo viên chủ nhiệm lớp nhắc nhở mà em chưa sửa chữa khuyết điểm. Giáo viên chủ nhiệm lớp buộc phải mời gia đình em đến gặp để trao đổi tìm biện pháp giúp đỡ em. Khi gặp giáo viên chủ nhiệm, gia đình lại có thái độ bao che khuyết điểm cho con. Họ đưa ra đủ lí do: nào con đi học muộn, hay không chuẩn bị bài do bận công việc gia đình...
Câu hỏi
Trước tình trạng như vậy, giáo viên chủ nhiệm lớp nên có cách tác động đến gia đình và bản thân em Dũng như thế nào cho có hiệu quả?
1.6.           THSP có liên quan đến việc giáo dục HS cá biệt (Chung)
 
“ NGHỈ HỌC”
Trong lớp của cô Hồng có một học sinh bị bệnh “tự kỷ”, trong các tiết học em không học được gì chỉ ngồi chơi một mình. Giờ ra chơi em thường xuyên bị các bạn trêu chọc. Khi biết tình hình đó, phụ huynh của em xin phép cho em nghỉ không đi học nữa. Cô Hồng rất mừng vì thế là “thoát nợ” nên đồng ý với gia đình ngay.
Câu hỏi:
-         Bạn có tán thành cách giải quyết của cô Hồng không? Vì sao
-         Nếu là các bộ quản lý của cô Hồng, bạn sẽ làm gì
 
ĐIỂM KIỂM TRA
 
            Trong khi chấm bài kiểm tra, bạn thấy bài làm có bài của em Hùng là một trường học sinh học ở mức độ trung bình nhưng bài kiểm tra lại rất tốt, đạt điểm 10, trong khi bài kiểm tra cũng có bài tương đối khó. 
Câu hỏi:
-         Bạn có suy nghĩ gì với trường hợp đó không hay vẫn chấm điểm như bình thường?
-         Khi trả bài kiểm tra bạn  xử lý như thế nào?
 
 
 

Nhóm 1:
1.      THSP có liên quan đến việc tìm hiểu tình hình HS
2.  THSP có liên quan đến việc xây dựng tập thể, quản lý  HS
Nhóm 2:
3. THSP có liên quan đến việc giáo dục toàn diện HS (Trong giờ học chính khóa và hoạt động ngoài giờ lên lớp)   
Nhóm 3:
4. THSP có liên quan đến việc đánh giá HS
Nhóm 4:
5. THSP có liên quan đến việc phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường để quản lí, giáo dục HS (đoàn thể, phụ huynh học sinh v.v…)
6. THSP có liên quan đến việc giáo dục HS cá biệt
1.      Yêu cầu khi xây dựng bài tập THSP.
Khi xây dựng bài tập THSP trong công tác của người giáo viên chủ nhiệm cần tuân thủ các yêu cầu chung của việc xây dựng từng THSP cũng như xây dựng hệ thống THSP. Các yêu cầu đó là:
1.1. THSP được xây dựng phải phù hợp và phục vụ cho việc thực hiện mục đích, nhiệm vụ giáo dục học sinh
Đây là yêu cầu quan trọng nhất, đảm bảo cho quá trình xây dựng từng THSP đi đúng hướng. Yêu cầu này đòi hỏi THSP phải chứa đựng những thông tin có liên quan đến tri thức, kinh nghiệm về công tác giáo dục học sinh của giáo viên chủ nhiệm lớp, để trong quá trình giải quyết tình huống, giáo viên sẽ có cơ hội hình thành, củng cố, phát triển trí thức, kĩ năng và thái độ cần thiết, phù hợp với công tác giáo dục HS ở nhà trường tiểu học.
1.2. THSP phải mang tính khái quát.
Tính khái quát trong tình huống thể hiện ở chỗ, việc giải quyết những tình huống này phải mang lại cho GV những bài học kinh nghiệm, những kĩ năng chung để từ đó GV có thể vận dụng giải quyết những vấn đề cùng loại hoặc có liên quan thể hiện trong các tình huống muôn màu muôn vẻ của thực tiễn công tác giáo dục HS ở tiểu học.
1.3. THSP phải mang tính phổ biến.
THSP phải chứa đựng vấn đề bức xúc cần giải quyết, thường xảy ra trong công tác giáo dục HS của người GV ở trường tiểu học . Để từ việc giải quyết những tình huống này, GV sẽ có khả năng thích ứng nhanh chóng với các vấn đề cần giải quyết thông thường trong công tác giáo dục . Ngoài ra , cũng cần xây dựng cả những tình huống thỉnh thoảng hoặc ít khi gặp trong công tác giáo dục, để khi giải quyết những THSP, GV biết cách giải quyết nhiều loại THSP  và sẽ không bị bất ngờ đối với bất kì loại tình huống nào có thể xảy trong hoạt động giáo dục.
1.4.  THSP phải phù hợp với đặc điểm của nhà trường tiểu học Việt Nam
Nội dung và hình thức biểu hiện của tình huống phải vừa mang đặc trưng chung về con người, về các mối quan hệ,... của con người Việt Nam được thể hiện qua ngôn ngữ tiếng Việt, lại vừa phản ánh đặc trưng riêng về con người, về các mối quan hệ,... của con người mang tính địa phương được thể hiện trong ngôn ngữ địa phương. Điều này khiến cho tình huống trở nên gần gũi và có sức thuyết phục.
1.5. THSP được xây dựng phải gắn với thực tiễn CTGD học sinh ở tiểu học
Yêu cầu này được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong quá trình giáo dục .Có thể sử dụng những tình huống giả định, những tình huống giáo dục đã xảy ra từ thời xa xưa, những tình huống về công tác giáo dục HS diễn ra ở các địa bàn khác nhưng đã biến đổi để phù hợp với thực tiễn với lớp, trường hay ở địa phương mình. Điều này đảm bảo việc giải quyết THSP không tách rời thực tiễn công tác giáo dục HS
1.6. THSP được đưa ra phải gây nên sự tranh cãi khi giải quyết.
Yêu cầu này đòi hỏi vấn đề trong tình huống được trình bày có ý nghĩa và liên quan đến công tác giáo dục mà GV cần nghiên cứu. Vấn đề đó có thể gây nên những xung đột về quan điểm giữa các GV  và nó cho phép có nhiều con đường lựa chọn để  trình bày vấn đề được giải quyết. Kết quả cuối cùng của việc giải quyết tình huống không phải là đưa ra một đáp án đúng cho việc giải quyết một tình huống cụ thể nào đó mà quan trọng hơn là cung cấp cho GV những bài học kinh nghiệm chung về chiến lược giải quyết tình huống.
1.7. Trong khi giải quyết THSP không nên cung cấp sẵn một sự giải quyết vấn đề.
Nếu yêu cầu này được đảm bảo thì qua việc giải quyết tình huống GV có cơ hội để chia sẻ sự hiểu biết của họ về nội dung tình huống, về những định hướng giá trị của họ và những khía cạnh có khả năng xác thực và không xác thực của việc giải quyết mà họ đề xuất.
1.8. THSP được xây dựng trong công tác giáo dục HS phải đảm bảo tính hệ thống với sự phong phú, đa dạng.
Tình huống diễn ra trong công tác giáo dục HS là rất phong phú và đa dạng. Do vậy các THSP được xây dựng không phải là một tập hợp ngẫu nhiên mà là một hệ thống tình huống trong công tác giáo dục HS của người GV chủ nhiệm lớp với nhiều kỹ năng khác nhau
 1.9. THSP phải được xây dựng với nhiều mức độ giải quyết khác nhau.
Có tình huống dễ giải quyết, có tình huống khó giải quyết, có tình huống đơn giản, có tình huống phức tạp, có tình huống trong đó chỉ chứa đựng một vấn đề, có tình huống trong đó chứa đựng nhiều vấn đề...
Hệ thống THSP được xây dựng như vậy mới có thể đáp ứng với logic nhận thức  trong quá trình học tập, đáp ứng nguyên tắc tăng dần mức độ luyện tập.
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
CHUC MUNG NGAY 20-11

LIÊN KẾT TÀI LIỆU

TH KET NOI
Mạng ioe
Mạng moet
Violym
Mang Edu
Sở GD&ĐT Nghệ An

VIDEO CLIP

Loading the player...